Quản trị giao dịch nội bộ tập đoàn đa quốc gia trong thời kỳ Covid tại Việt Nam có gì đặc biệt? năm 2020


Đánh giá lại chuỗi cung ứng toàn cầu

Các tập đoàn đa quốc gia, đặc biệt là những tập đoàn có cơ sở sản xuất kinh doanh tại Trung Quốc, đã và đang cân nhắc đến việc tìm kiếm và thay thế các cơ sở sản xuất, hoạt động nằm ngoài Trung Quốc, tái cấu trúc chuỗi cung ứng để tối ưu hóa về mặt kinh doanh và thuế trong dài hạn, bên cạnh những giải pháp cung ứng tạm thời.

Song song với việc chuyển đổi mô hình hoạt động, các công ty đa quốc gia đồng thời phải xét đến các giao dịch nội bộ mua bán hàng hóa dịch vụ, các giao dịch vô hình và tài chính giữa các công ty trong tập đoàn một cách toàn diện và sâu sắc. Hầu hết các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là công ty con của các tập đoàn đa quốc gia, sản xuất theo đơn đặt hàng của công ty mẹ và được đánh giá là chịu rủi ro tương đối thấp.

Tuy nhiên, chịu rủi ro thấp không đồng nghĩa với phi rủi ro, do vậy, kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp này vẫn có thể chịu tác động bởi các yếu tố không thể lường trước như đại dịch Covid-19. Các công ty trong tập đoàn có thể sẽ phải chia sẻ thiệt hại ở mức độ khác nhau tùy thuộc vào chức năng và rủi ro.

Xem xét lại thỏa thuận trong giao dịch nội bộ tập đoàn

Không chỉ liên quan đến việc tái cấu trúc chuỗi cung ứng, vấn đề tiếp theo doanh nghiệp cần xem xét là rà soát và thiết lập chính sách giá và các thỏa thuận nội bộ của tập đoàn để có thể ứng phó với những thay đổi nhanh chóng và chủ động.

Tập đoàn thường tính các khoản phí dịch vụ cho các công ty con ở Việt Nam như tiền bản quyền thương hiệu và phí dịch vụ tư vấn hỗ trợ hoạt động kinh doanh.  Dù giá trị của thương hiệu có thể không thay đổi nhưng trong thời kỳ khủng hoảng, thương hiệu có thể sẽ không mang lại nhiều doanh thu cho các công ty bán hàng hoặc phân phối như trong điều kiện bình thường. 

Do đó, phí bản quyền thương hiệu tính trên phần trăm doanh thu bán hàng nên được cân nhắc điều chỉnh giảm, hoặc ít nhất là trong ngắn hạn. Tương tự, phí dịch vụ tư vấn hỗ trợ cũng nên được xem xét giảm do tình trạng không liên tục và ít hiệu quả của các chuyên gia trong quá trình cung cấp dịch vụ. 

Bên cạnh đó, bộ phận pháp lý trong doanh nghiệp nên xem xét những điều khoản bất khả kháng trong thỏa thuận, hợp đồng thương mại với các bên liên kết, điều kiện áp dụng các khoản bồi thường do tác động của đại dịch Covid-19, ví dụ như tình trạng giao hàng trễ làm ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất. Trên quan điểm pháp lý và thương mại, tiền phạt cho các khoản thanh toán chậm cũng có thể được cân nhắc.

Tận dụng hiệu quả cơ hội từ các quy định và cơ chế mới

Một trong các nỗ lực Chính phủ hỗ trợ doanh nghiệp duy trì và đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh, thúc đẩy phát triển kinh tế trong giai đoạn này là Nghị định 68/2020/NĐ CP sửa đổi Khoản 3, Điều 8, Nghị định 20.  

Cụ thể, Nghị định được áp dụng cho kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2019, cho phép thực hiện điều chỉnh cho kỳ tính thuế 2017, 2018 liên quan đến nâng mức khống chế chi phí lãi vay từ 20% lên 30% của lợi nhuận hoạt động trước thuế, lãi vay và khấu hao; đồng thời áp dụng cách tính chi phí lãi vay thuần (chi phí lãi vay sau khi trừ lãi tiền gửi và lãi cho vay) cũng như cho phép chuyển chi phí lãi vay vượt mức khống chế sang 5 năm tiếp theo.

Nghị định được đánh giá là tiệm cận hơn với thông lệ quốc tế nhằm tạo sự thống nhất về cơ chế xác định chi phí lãi vay giữa các nước thành viên trong tập đoàn, giúp giảm bớt gánh nặng về chi phí thuế liên quan đến lãi tiền vay. 

Quy định đặc biệt thuận lợi đối với các tập đoàn đa quốc gia hoạt động theo mô hình các công ty mẹ – con và phát sinh nhiều giao dịch đi vay và cho vay, các doanh nghiệp hoạt động với vốn vay lớn và có tính chu kỳ, các doanh nghiệp đang trong giai đoạn đầu tư ban đầu và phát sinh lỗ. 

Các doanh nghiệp nên rà soát và tính toán lại mức chi phí lãi vay được trừ cho giai đoạn 2017-2019 và đánh giá tác động của Nghị định 68 đối với cơ cấu kế hoạch tài chính và hoạt động kinh doanh trong ngắn hạn và dài hạn nhằm có biện pháp kiểm soát dòng tiền nhằm hồi phục, duy trì và thúc đẩy hoạt động kinh doanh sau đại dịch.

Phân tích và đánh giá kết quả kinh doanh lỗ hoặc sụt giảm lợi nhuận nghiêm trọng

Hầu hết các doanh nghiệp được dự báo là sẽ có một năm hoạt động đầy thách thức với biến động lớn về lợi nhuận, thậm chí ghi nhận lỗ.  Các doanh nghiệp nên xem xét việc ghi nhận, phân tích và định lượng các nguyên nhân thương mại, tài chính, kinh tế ảnh hưởng tới sự thay đổi tiêu cực đến tình hình kinh doanh của doanh nghiệp trong bối cảnh đại dịch như sụt giảm về đơn đặt hàng, chi phí phát sinh do công suất nhàn rỗi, v.v. 

Mô hình phân chia tổn thất giữa các thành viên trong tập đoàn có thể được cân nhắc sau khi xem xét tính phù hợp để áp dụng trong điều kiện kinh tế hiện tại. Ngoài ra, doanh nghiệp có thể tham khảo thêm ý kiến tư vấn từ các chuyên gia để có sự hỗ trợ trong việc chuẩn bị các hồ sơ và tài liệu bổ sung theo quy định về giao dịch liên kết tại Việt Nam.

Đinh Mai Hạnh – Phó Tổng Giám đốc phụ trách dịch vụ tư vấn giao dịch liên kết – Deloitte Việt Nam

Bạn đang xem bài viết:
Quản trị giao dịch nội bộ tập đoàn đa quốc gia trong thời kỳ Covid tại Việt Nam có gì đặc biệt? năm 2020

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *